Logo Lịch sử dự thảo
null
41 sự kiện trên dòng thời gian này
  1. Sự cai trị của người Amorite tại Babylon bắt đầu

    Thế kỷ 19th TCNCận Đông

    Theo danh sách niên đại của Babylon, sự cai trị của người Amorite tại Babylon bắt đầu (khoảng thế kỷ 19 hoặc 18 TCN) với một thủ lĩnh tên là Sumu-abum, người đã tuyên bố độc lập khỏi thành bang láng giềng Kazallu.

  2. Sumu-la-El

    1890 TCNIraq

    Sumu-la-El, người có niên đại có thể trùng với Sumu-abum, thường được coi là tổ tiên của triều đại Babylon thứ nhất.

  3. Hammurabi

    1792 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Hammurabi (trị vì 1792–1750 TCN) nổi tiếng với việc hệ thống hóa luật pháp của Babylonia thành Bộ luật Hammurabi. Ông đã chinh phục tất cả các thành phố và thành bang của miền nam Lưỡng Hà, bao gồm Isin, Larsa, Ur, Uruk, Nippur, Lagash, Eridu, Kish, Adab, Eshnunna, Akshak, Akkad, Shuruppak, Bad-tibira, Sippar và Girsu, hợp nhất chúng thành một vương quốc, cai trị từ Babylon. Hammurabi cũng đã xâm lược và chinh phục Elam ở phía đông, cùng các vương quốc Mari và Ebla ở phía tây bắc.

  4. Bộ luật Hammurabi

    1754 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Bộ luật Hammurabi là một bộ luật Babylon được bảo tồn tốt của Lưỡng Hà cổ đại, có niên đại khoảng năm 1754 TCN (Niên đại trung kỳ). Đây là một trong những văn bản giải mã cổ nhất có độ dài đáng kể trên thế giới. Vị vua thứ sáu của Babylon, Hammurabi, đã ban hành bộ luật này. Một bản sao một phần hiện tồn tại trên một tấm bia đá cao 2,25 mét (7,4 ft). Bộ luật bao gồm 282 điều luật, với các hình phạt theo thang bậc, điều chỉnh nguyên tắc "mắt đền mắt, răng đền răng" (lex talionis) dựa trên sự phân tầng xã hội tùy thuộc vào địa vị xã hội và giới tính, giữa nô lệ và người tự do, đàn ông và phụ nữ.

  5. Trở lại thành bang nhỏ

    Thế kỷ 18th TCNBabylon (nay là Iraq)

    Sau triều đại của Hammurabi, toàn bộ miền nam Lưỡng Hà được gọi là Babylonia, trong khi miền bắc đã hợp nhất thành Assyria từ nhiều thế kỷ trước. Kể từ thời điểm này, Babylon đã thay thế Nippur và Eridu trở thành các trung tâm tôn giáo lớn của miền nam Lưỡng Hà. Đế chế của Hammurabi mất ổn định sau khi ông qua đời. Người Assyria đã đánh bại và trục xuất người Babylon và người Amorite. Vùng cực nam Lưỡng Hà tách ra, hình thành Vương triều Sealand bản địa, và người Elam chiếm đoạt lãnh thổ ở miền đông Lưỡng Hà. Triều đại Amorite vẫn nắm quyền tại Babylon, nơi một lần nữa trở thành một thành bang nhỏ.

  6. Babylon được đổi tên thành Karanduniash

    1595 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Năm 1595 TCN, thành phố bị Đế quốc Hittite từ Tiểu Á lật đổ. Sau đó, người Kassite từ dãy núi Zagros ở tây bắc Iran cổ đại đã chiếm Babylon, mở ra một triều đại kéo dài 435 năm, cho đến năm 1160 TCN. Thành phố được đổi tên thành Karanduniash trong thời kỳ này.

  7. Babylon cuối cùng đã trở thành chư hầu của Đế quốc Assyria Trung kỳ

    1365 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Babylon thời Kassite cuối cùng đã trở thành chư hầu của Đế quốc Assyria Trung kỳ (1365–1053 TCN) ở phía bắc và Elam ở phía đông, với cả hai cường quốc đều tranh giành quyền kiểm soát thành phố. Vua Tukulti-Ninurta I của Assyria đã lên ngôi Babylon vào năm 1235 TCN.

  8. Triều đại Akkadian ở miền nam Lưỡng Hà sau đó đã cai trị lần đầu tiên

    1155 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Đến năm 1155 TCN, sau các cuộc tấn công liên tục và việc sáp nhập lãnh thổ bởi người Assyria và người Elam, triều đại Kassite đã bị lật đổ tại Babylon. Một triều đại người Akkad ở miền nam Lưỡng Hà sau đó đã cai trị lần đầu tiên. Tuy nhiên, Babylon vẫn suy yếu và chịu sự thống trị của Assyria.

  9. Babylon nằm dưới sự thống trị hoặc kiểm soát trực tiếp liên tục của Assyria

    911 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Trong thời kỳ cai trị của Đế chế Tân Assyria (911–609 TCN), Babylon nằm dưới sự thống trị hoặc kiểm soát trực tiếp liên tục của Assyria.

  10. Trận Suro

    878 TCNSuro, Babylon

    Vào năm 878 TCN, Ashurnasirpal II, vua của Assyria, đã chinh phục Suro, pháo đài chính của thống đốc Suhum, thuộc nhà nước Babylon.

  11. Sự hủy diệt hoàn toàn thành phố Babylon

    Thế kỷ 7th TCNBabylon (nay là Iraq)

    Trong triều đại của Sennacherib ở Assyria, Babylon luôn trong tình trạng nổi dậy, do một thủ lĩnh tên là Merodach-Baladan lãnh đạo, liên minh với người Elam, và chỉ bị dập tắt bằng sự hủy diệt hoàn toàn thành phố Babylon.

  12. Các bức tường, đền thờ và cung điện bị san bằng, và gạch vụn bị ném xuống Arakhtu

    689 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Năm 689 TCN, các bức tường, đền thờ và cung điện của nó bị san bằng, và gạch vụn bị ném xuống Arakhtu, vùng biển giáp với Babylon trước đó ở phía nam. Sự hủy diệt trung tâm tôn giáo đã gây sốc cho nhiều người, và vụ ám sát Sennacherib sau đó bởi hai người con trai của chính ông khi đang cầu nguyện với thần Nisroch được coi là một hành động chuộc tội.

  13. Người kế vị của Sennacherib là Esarhaddon đã vội vã xây dựng lại thành phố cổ

    670 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Do đó, người kế vị của Sennacherib là Esarhaddon đã vội vã xây dựng lại thành phố cổ và biến nó thành nơi cư trú của mình trong một phần của năm.

  14. Nội chiến

    652 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Sau cái chết của Esarhaddon, Babylon được cai trị bởi con trai cả của ông, hoàng tử Assyria Shamash-shum-ukin, người cuối cùng đã bắt đầu một cuộc nội chiến vào năm 652 TCN chống lại chính anh trai mình, Ashurbanipal, người cai trị ở Nineveh. Shamash-shum-ukin đã tranh thủ sự giúp đỡ của các dân tộc khác để chống lại Assyria, bao gồm Elam, Ba Tư, người Chaldea và người Sutean ở miền nam Lưỡng Hà, cùng người Canaan và người Ả Rập sống trong các sa mạc phía nam Lưỡng Hà.

  15. Ashurbanipal đã thu thập các văn bản từ Babylon để đưa vào thư viện đồ sộ của mình tại Nineveh

    640 TCNNineveh (Mosul, Nineveh, Iraq ngày nay)

    Một lần nữa, Babylon bị người Assyria bao vây, bị bỏ đói cho đến khi đầu hàng, và các đồng minh của nó bị đánh bại. Ashurbanipal đã tổ chức một "nghi lễ hòa giải", nhưng không mạo hiểm "nắm tay" thần Bel. Một thống đốc Assyria tên là Kandalanu được bổ nhiệm làm người cai trị thành phố. Ashurbanipal đã thu thập các văn bản từ Babylon để đưa vào thư viện đồ sộ của mình tại Nineveh.

  16. Chuỗi nội chiến

    620 TCNNineveh (Mosul, Nineveh, Iraq ngày nay)

    Sau cái chết của Ashurbanipal, đế chế Assyria mất ổn định do một loạt các cuộc nội chiến trong suốt triều đại của các vị vua Assyria Ashur-etil-ilani, Sin-shumu-lishir và Sinsharishkun.

  17. Vương quốc độc lập

    Thg 11, 626 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Vào tháng 11 năm 626 TCN, Nabopolassar chính thức lên ngôi Vua Babylon, khôi phục Babylon thành một vương quốc độc lập sau hơn một thế kỷ dưới sự cai trị trực tiếp của Assyria.

  18. Nabopolassar tấn công và chiếm thành công các thành phố Babylon và Nippur

    626 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Vào đầu triều đại của vị vua Tân Assyria Sinsharishkun, vị tướng phương nam Nabopolassar đã lợi dụng tình trạng bất ổn chính trị đang diễn ra ở Assyria, gây ra bởi một cuộc nội chiến ngắn trước đó giữa Sinsharishkun và tướng Sin-shumu-lishir, để nổi dậy. Năm 626 TCN, Nabopolassar tấn công và chiếm thành công các thành phố Babylon và Nippur.

  19. Chiến dịch thất bại

    623 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Với chỉ những thành công nhỏ trong các chiến dịch ở phía bắc Babylonia từ năm 625–623 TCN và các thành phố phía nam hơn, như Der, gia nhập cùng Nabopolassar, Sinsharishkun đã dẫn đầu một cuộc phản công lớn vào năm 623 TCN. Mặc dù cuộc phản công này ban đầu thành công và Sinsharishkun có thể đã giành chiến thắng cuối cùng, ông đã phải từ bỏ chiến dịch do một cuộc nổi dậy ở Assyria đe dọa vị thế vua của mình.

  20. Người Medes tiến vào Assyria và chinh phục khu vực xung quanh thành phố Arrapha

    615 TCNArrapha (nay là Kirkuk, Iraq)

    Vào tháng 10 hoặc tháng 11 năm 615 TCN, người Medes, cũng là kẻ thù cổ xưa của Assyria, dưới sự chỉ huy của Vua Cyaxares đã tiến vào Assyria và chinh phục khu vực xung quanh thành phố Arrapha.

  21. Người Medes bắt đầu tấn công các thành phố Kalhu và Nineveh

    614 TCNNineveh và Assur (Iraq ngày nay)

    Vào tháng 7 hoặc tháng 8 năm 614 TCN, người Medes bắt đầu tấn công các thành phố Kalhu và Nineveh. Sau đó, họ bao vây Assur, trung tâm chính trị (và vẫn là tôn giáo) cổ xưa của Assyria. Cuộc bao vây thành công và thành phố đã phải chịu đựng một cuộc cướp phá tàn bạo.

  22. Hiệp ước chống Assyria

    610 TCNAssur

    Nabopolassar chỉ đến Assur sau khi cuộc cướp phá đã bắt đầu và gặp Cyaxares, liên minh với ông và ký kết một hiệp ước chống Assyria.

  23. Cuộc hành quân đến Nineveh

    612 TCNNineveh (Mosul, Nineveh, Iraq ngày nay)

    Vào tháng 4 hoặc tháng 5 năm 612 TCN, khi bắt đầu năm thứ mười bốn trị vì của Nabopolassar tại Babylon, quân đội liên minh Medes-Babylon đã hành quân đến Nineveh. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm đó, họ bao vây thủ đô Assyria và vào tháng 8, các bức tường thành bị phá vỡ, dẫn đến một cuộc cướp phá kéo dài và tàn bạo khác, trong đó Sinsharishkun được cho là đã chết.

  24. Vị vua cuối cùng của Assyria bị đánh bại

    609 TCNHarran, Thổ Nhĩ Kỳ

    Người kế vị của Sinsharishkun là Ashur-uballit II, vị vua cuối cùng của Assyria, đã bị đánh bại tại Harran vào năm 609 TCN.

  25. Nebuchadnezzar II

    605 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Nabopolassar qua đời năm 605 TCN và con trai ông, Nebuchadnezzar II, kế vị làm vua.

  26. Trận Carchemish

    605 TCNCarchemish

    Ai Cập, đồng minh của Assyria, tiếp tục cuộc chiến chống lại Babylon trong vài năm trước khi bị thái tử Nebuchadnezzar của Nabopolassar đánh bại hoàn toàn tại Carchemish vào năm 605 TCN.

  27. Trận Hamath

    605 TCNHama (Syria ngày nay)

    Trận Hamath, đôi khi được gọi là Trận Hama, là một trận chiến giữa người Babylon và tàn quân của quân đội Ai Cập đã bị đánh bại tại Carchemish. Trận chiến diễn ra gần thành phố cổ Hamath trên sông Orontes.

  28. Trung tâm theo nghĩa đen và nghĩa bóng của thế giới

    600 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Ngoài những chiến công quân sự, Nebuchadnezzar còn là một nhà xây dựng vĩ đại, nổi tiếng với các công trình tưởng niệm và xây dựng trên khắp vùng Lưỡng Hà (như Cổng Ishtar của Babylon và Con đường Diễu hành của thành phố). Tổng cộng, ông được biết đến là đã cải tạo hoàn toàn ít nhất mười ba thành phố nhưng ông dành phần lớn thời gian và nguồn lực cho thủ đô Babylon. Đến năm 600 TCN, Babylon được người Babylon và có thể cả các dân tộc bị họ cai trị coi là trung tâm theo nghĩa đen và nghĩa bóng của thế giới. Nebuchadnezzar đã mở rộng Con đường Diễu hành của thành phố và trang trí thêm những chi tiết mới, khiến Lễ hội Năm mới hàng năm, được tổ chức để tôn vinh vị thần bảo hộ của thành phố là Marduk, trở nên ngoạn mục hơn bao giờ hết.

  29. Vườn treo Babylon

    Thế kỷ 6th TCNBabylon (nay là Iraq)

    Vườn treo Babylon là một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại được liệt kê bởi văn hóa Hy Lạp. Chúng được mô tả là một kỳ công kỹ thuật đáng kinh ngạc với một loạt các khu vườn bậc thang đi lên chứa nhiều loại cây, cây bụi và dây leo, giống như một ngọn núi xanh lớn được xây dựng bằng gạch bùn. Người ta nói rằng nó được xây dựng tại thành phố cổ Babylon.

  30. Sự hủy diệt Jerusalem

    587 TCNJerusalem

    Mặc dù Nebuchadnezzar được mô tả không mấy thiện cảm trong Kinh thánh do việc ông phá hủy Jerusalem vào năm 587 TCN, triều đại 43 năm của Nebuchadnezzar đã mang lại một thời kỳ hoàng kim cho Babylon, nơi trở thành vương quốc hùng mạnh nhất ở Trung Đông.

  31. Cổng Ishtar

    575 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Cổng Ishtar là cổng thứ tám dẫn vào nội thành Babylon (thuộc khu vực Hillah, Tỉnh Babil, Iraq ngày nay). Nó được xây dựng vào khoảng năm 575 TCN theo lệnh của Vua Nebuchadnezzar II ở phía bắc thành phố.

  32. Amel-Marduk

    562 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Sau triều đại lâu dài của Nebuchadnezzar II, đế chế rơi vào thời kỳ hỗn loạn chính trị và bất ổn. Con trai và người kế vị của Nebuchadnezzar là Amel-Marduk.

  33. Amel-Marduk bị ám sát

    560 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Amel-Marduk chỉ trị vì được hai năm trước khi bị ám sát trong một cuộc đảo chính bởi triều thần có ảnh hưởng Neriglissar.

  34. Neriglissar qua đời

    556 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Neriglissar là một simmagir, một thống đốc của một trong những tỉnh phía đông, và đã có mặt trong một số chiến dịch của Nebuchadnezzar. Quan trọng hơn, Neriglissar cũng kết hôn với một trong những người con gái của Nebuchadnezzar và do đó ông có liên hệ với hoàng gia. Có thể do tuổi già, triều đại của Neriglissar cũng ngắn ngủi với một vài hoạt động được ghi lại là việc khôi phục một số di tích ở Babylon và một chiến dịch ở Cilicia. Neriglissar qua đời năm 556 TCN. Kế vị Neriglissar là người con trai chưa đủ tuổi của ông, Labashi-Marduk (cũng là cháu ngoại của Nebuchadnezzar II thông qua mẹ mình). Triều đại của Labashi-Marduk thậm chí còn ngắn hơn, bị ám sát trong cùng năm sau khi trị vì chỉ chín tháng.

  35. Nabonidus

    550 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Những kẻ chủ mưu vụ ám sát (Labashi-Marduk), triều thần có ảnh hưởng Nabonidus và con trai ông là Belshazzar, sau đó đã nắm quyền. Bất chấp sự hỗn loạn bao quanh việc ông lên ngôi, bản thân đế chế vẫn tương đối bình yên trong giai đoạn khó khăn này, nhưng có sự phản đối đáng kể đối với Nabonidus, người bắt đầu triều đại của mình với các hoạt động truyền thống gắn liền với nhà vua; cải tạo các tòa nhà và di tích, thờ phụng các vị thần và tiến hành chiến tranh (cũng thực hiện chiến dịch ở Cilicia). Nabonidus không có dòng dõi Babylon, mà có nguồn gốc từ Harran ở Assyria cũ, một trong những nơi thờ phụng chính của thần Sîn (gắn liền với mặt trăng). Vị vua mới công khai nâng cao vị thế của thần Sîn trong đế chế, dành nhiều sự chú ý cho vị thần này hơn là vị thần quốc gia Marduk của Babylon. Do đó, Nabonidus bị giới tăng lữ Babylon căm ghét. Sự căm ghét này càng tăng lên khi Nabonidus tăng cường kiểm soát chính phủ đối với các ngôi đền trong nỗ lực giải quyết các vấn đề quản lý đang diễn ra với các tổ chức tôn giáo của đế chế.

  36. Nabonidus rời Babylon

    553 TCNTayma (Ngày nay thuộc Ả Rập Xê Út)

    Nabonidus rời Babylon để thực hiện chiến dịch ở vùng Levant và sau đó định cư mười năm tại thành phố Tayma (nơi ông đã chinh phục trong chiến dịch) ở Ả Rập, một địa điểm khác để thờ phụng mặt trăng. Con trai ông là Belshazzar được để lại để cai trị Babylonia (mặc dù với tước hiệu thái tử thay vì vua, một tước hiệu mà Nabonidus vẫn tiếp tục giữ). Lý do Nabonidus dành một thập kỷ xa thủ đô của mình vẫn chưa được biết rõ, mặc dù có thể là do lo sợ các quan chức chính trị và tôn giáo của Babylon, những người oán giận việc thành phố này đại diện cho một nơi thờ phụng mặt trăng nổi bật khác, hoặc do ảnh hưởng ngày càng tăng của Belshazzar tại triều đình.

  37. Cyrus Đại đế nổi dậy chống lại chúa tể Astyages của mình

    549 TCNEcbatana (Hamadan, Iran ngày nay)

    Năm 549 TCN, Cyrus Đại đế, vị vua Achaemenid của Ba Tư, đã nổi dậy chống lại chúa tể Astyages, vua của Media, tại Ecbatana. Quân đội của Astyages phản bội ông và Cyrus tự lập mình làm người cai trị tất cả các dân tộc Iran, cũng như người Elam và Gutian tiền Iran, chấm dứt Đế chế Median và thiết lập Đế chế Achaemenid.

  38. Nabonidus trở về

    543 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Sự trở về của Nabonidus vào khoảng năm 543 TCN đi kèm với việc tái tổ chức triều đình và loại bỏ một số thành viên có ảnh hưởng lớn.

  39. Cyrus tiến vào Babylon

    Thứ Ba Thg 10 13, 539 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Nabonidus chạy trốn đến Borsippa, và vào ngày 12 tháng 10, sau khi các kỹ sư của Cyrus chuyển hướng dòng chảy sông Euphrates, quân đội của Cyrus đã tiến vào Babylon mà không cần giao chiến. Nabonidus đầu hàng và bị trục xuất. Lính canh Gutian được bố trí tại các cổng của ngôi đền lớn Marduk, nơi các nghi lễ vẫn tiếp tục mà không bị gián đoạn.

  40. Trận Opis

    Thứ Bảy Thg 9 26, 539 TCNOpis, Babylon (Baghdad, Iraq ngày nay)

    Cyrus xâm lược Babylon. Nabonidus đã cử con trai mình là Belshazzar đi chặn đứng đội quân Ba Tư hùng hậu nhưng lực lượng Babylon đã bị đánh bại trong Trận Opis.

  41. Năm kẻ nổi loạn tự xưng là Vua của Babylon

    522 TCNBabylon (nay là Iraq)

    Các nhà cai trị Achaemenid thời kỳ đầu rất tôn trọng Babylonia, coi khu vực này là một thực thể hoặc vương quốc riêng biệt được hợp nhất với vương quốc của chính họ theo hình thức liên minh cá nhân. Khu vực này là một tài sản kinh tế quan trọng và đóng góp tới một phần ba tổng số cống nạp của toàn bộ Đế chế Achaemenid. Bất chấp sự quan tâm của nhà Achaemenid và việc công nhận các nhà cai trị Achaemenid là Vua của Babylon, người Babylonia vẫn oán giận nhà Achaemenid, giống như cách họ từng oán giận người Assyria một thế kỷ trước đó. Ít nhất năm kẻ nổi loạn đã tự xưng là Vua của Babylon và nổi dậy trong thời kỳ cai trị của nhà Achaemenid nhằm khôi phục quyền cai trị bản địa; đó là Nebuchadnezzar III (522 TCN), Nebuchadnezzar IV (521–520 TCN), Bel-shimanni (484 TCN), Shamash-eriba (482–481 TCN) và Nidin-Bel (336 TCN).