1Cái chết của Viên Thế Khải

Sau sự sụp đổ của nhà Thanh trong hậu quả của Cách mạng Tân Hợi, Trung Quốc rơi vào một thời kỳ nội chiến ngắn trước khi Viên Thế Khải đảm nhận chức tổng thống của nước Trung Hoa Dân Quốc mới thành lập. Chính quyền này được gọi là Chính phủ Bắc Dương, với thủ đô đặt tại Bắc Kinh. Viên Thế Khải đã thất bại trong nỗ lực ngắn ngủi nhằm khôi phục chế độ quân chủ ở Trung Quốc, với việc tự phong mình là Hồng Hiến Hoàng đế. Sau cái chết của Viên Thế Khải vào năm 1916, những năm tiếp theo được đặc trưng bởi cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái khác nhau trong quân đội Bắc Dương cũ. Trong khi đó, Quốc Dân Đảng, do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, đã tạo ra một chính phủ mới ở Quảng Châu để chống lại sự cai trị của Chính phủ Bắc Dương thông qua một loạt các phong trào.

2Tôn Trung Sơn hướng về Liên Xô

Những nỗ lực của Tôn Trung Sơn nhằm tìm kiếm sự giúp đỡ từ nhiều quốc gia đã bị phớt lờ, vì vậy ông đã hướng về Liên Xô vào năm 1921. Vì sự thuận tiện về chính trị, giới lãnh đạo Liên Xô đã khởi xướng một chính sách kép là hỗ trợ cả Tôn Trung Sơn và Đảng Cộng sản Trung Quốc mới thành lập, đảng mà sau này sẽ thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Do đó, cuộc đấu tranh giành quyền lực ở Trung Quốc đã bắt đầu giữa KMT và CPC.

3Cơ sở thành viên

Các đảng viên cộng sản được phép gia nhập KMT trên cơ sở cá nhân. Bản thân CPC lúc đó vẫn còn nhỏ, với số lượng thành viên là 300 vào năm 1922 và chỉ 1.500 vào năm 1925. Tính đến năm 1923, KMT có 50.000 thành viên.

4Tuyên bố chung của Tôn Trung Sơn và đại diện Liên Xô Adolph Joffe tại Thượng Hải cam kết sự hỗ trợ của Liên Xô cho sự thống nhất của Trung Quốc

Năm 1923, một tuyên bố chung của Tôn Trung Sơn và đại diện Liên Xô Adolph Joffe tại Thượng Hải đã cam kết sự hỗ trợ của Liên Xô cho sự thống nhất của Trung Quốc. Tuyên ngôn Tôn-Joffe là một tuyên bố về sự hợp tác giữa Quốc tế Cộng sản, KMT và CPC. Đặc vụ Quốc tế Cộng sản Mikhail Borodin đã đến Trung Quốc vào năm 1923 để hỗ trợ việc tái tổ chức và củng cố KMT theo mô hình của Đảng Cộng sản Liên Xô. CPC đã gia nhập KMT để thành lập Mặt trận Thống nhất lần thứ nhất.

5Tưởng Giới Thạch trở thành người đứng đầu Trường Quân sự Hoàng Phố

Năm 1923, Tôn Trung Sơn đã cử Tưởng Giới Thạch, một trong những cấp dưới của ông từ thời Đồng Minh Hội, đi học quân sự và chính trị trong vài tháng tại thủ đô Moscow của Liên Xô. Đến năm 1924, Tưởng Giới Thạch trở thành người đứng đầu Trường Quân sự Hoàng Phố và nổi lên như người kế nhiệm Tôn Trung Sơn đứng đầu KMT.

6Cái chết của Tôn Trung Sơn

Tuy nhiên, sau khi Tôn Trung Sơn qua đời vào năm 1925, KMT chia rẽ thành các phong trào cánh tả và cánh hữu. Các thành viên KMT lo ngại rằng Liên Xô đang cố gắng tiêu diệt KMT từ bên trong bằng cách sử dụng CPC. Sau đó, CPC bắt đầu các phong trào phản đối cuộc Bắc phạt, thông qua một nghị quyết chống lại nó tại một cuộc họp của đảng.

7Sự cạnh tranh KMT-CPC dẫn đến sự chia rẽ trong hàng ngũ cách mạng

Đầu năm 1927, sự cạnh tranh giữa KMT và CPC đã dẫn đến sự chia rẽ trong hàng ngũ cách mạng. CPC và cánh tả của KMT đã quyết định chuyển trụ sở chính phủ KMT từ Quảng Châu đến Vũ Hán, nơi ảnh hưởng của cộng sản rất mạnh.

8KMT tổ chức cuộc họp đảng lần thứ hai, nơi Liên Xô giúp thông qua các nghị quyết chống lại cuộc Bắc phạt

Sau đó, vào tháng 3 năm 1927, KMT đã tổ chức cuộc họp đảng lần thứ hai, nơi Liên Xô giúp thông qua các nghị quyết chống lại cuộc Bắc phạt và kiềm chế quyền lực của Tưởng Giới Thạch. Chẳng bao lâu sau, KMT đã bị chia rẽ rõ rệt.

9Tưởng Giới Thạch và một số nhà lãnh đạo KMT khác đã tổ chức một cuộc họp, trong đó họ đề xuất rằng các hoạt động của Cộng sản

Vào ngày 7 tháng 4, Tưởng Giới Thạch và một số nhà lãnh đạo KMT khác đã tổ chức một cuộc họp, trong đó họ đề xuất rằng các hoạt động của Cộng sản gây rối loạn về mặt xã hội và kinh tế và cần phải bị loại bỏ để cuộc cách mạng Quốc gia có thể tiếp tục.

10Đảng Cộng sản phát động cuộc khởi nghĩa ở Nam Xương

Vào ngày 1 tháng 8 năm 1927, Đảng Cộng sản đã phát động một cuộc khởi nghĩa ở Nam Xương chống lại chính phủ Quốc gia ở Vũ Hán. Xung đột này đã dẫn đến sự ra đời của Hồng quân.

11Cuộc họp của CPC xác nhận mục tiêu của đảng là giành chính quyền bằng vũ lực

Một cuộc họp của CPC (Đảng Cộng sản Trung Quốc) vào ngày 7 tháng 8 đã xác nhận mục tiêu của đảng là giành chính quyền bằng vũ lực, nhưng CPC đã nhanh chóng bị chính phủ Quốc gia ở Vũ Hán do Uông Tinh Vệ lãnh đạo đàn áp vào ngày hôm sau, 8 tháng 8.

12Tưởng Giới Thạch tuyên bố tạm thời nghỉ hưu

Vào ngày 14 tháng 8, Tưởng Giới Thạch tuyên bố tạm thời nghỉ hưu, khi phe Vũ Hán và phe Nam Kinh của Quốc Dân Đảng đã liên minh trở lại với mục tiêu chung là đàn áp Đảng Cộng sản sau sự chia rẽ trước đó.

13Lực lượng Quốc gia nhanh chóng chiếm lại Nam Xương

Vào ngày 4 tháng 8, lực lượng chính của Hồng quân rời Nam Xương và tiến về phía nam để tấn công Quảng Đông. Lực lượng Quốc gia nhanh chóng chiếm lại Nam Xương trong khi các thành viên còn lại của CPC ở Nam Xương phải ẩn náu.

14Khởi nghĩa Quảng Châu

Vào ngày 11 tháng 12, CPC bắt đầu cuộc Khởi nghĩa Quảng Châu, thành lập một chính quyền Xô viết ở đó vào ngày hôm sau, nhưng đã mất thành phố vào ngày 13 tháng 12 trước một cuộc phản công theo lệnh của Tướng Trương Phát Khuê.

15Uông Tinh Vệ chạy sang Pháp

Vào ngày 16 tháng 12, Uông Tinh Vệ bỏ trốn sang Pháp. Lúc này Trung Quốc có ba thủ đô: thủ đô của nước cộng hòa được quốc tế công nhận ở Bắc Kinh, chính phủ của ĐCSTQ và cánh tả KMT (Quốc Dân Đảng) tại Vũ Hán, và chính quyền cánh hữu KMT tại Nam Kinh, nơi sẽ vẫn là thủ đô của KMT trong thập kỷ tiếp theo.

16KMT chiếm đóng Bắc Kinh

Cuối cùng, cánh tả của KMT cũng trục xuất các thành viên ĐCSTQ khỏi chính phủ Vũ Hán, chính phủ này sau đó đã bị Tưởng Giới Thạch lật đổ. KMT tiếp tục chiến dịch chống lại các quân phiệt và chiếm được Bắc Kinh vào tháng 6 năm 1928.

17Nhật Bản xâm lược và chiếm đóng Mãn Châu

Trong thời gian Nhật Bản xâm lược và chiếm đóng Mãn Châu, Tưởng Giới Thạch, người coi ĐCSTQ (Đảng Cộng sản Trung Quốc) là mối đe dọa lớn hơn, đã từ chối liên minh với họ để chống lại Quân đội Đế quốc Nhật Bản. Tưởng ưu tiên thống nhất Trung Quốc bằng cách loại bỏ các quân phiệt và lực lượng ĐCSTQ trước. Ông tin rằng mình vẫn còn quá yếu để phát động một cuộc tấn công nhằm đánh đuổi Nhật Bản và Trung Quốc cần thời gian để xây dựng quân đội. Chỉ sau khi thống nhất, KMT (Quốc Dân Đảng) mới có thể huy động một cuộc chiến chống lại Nhật Bản. Vì vậy, ông thà phớt lờ sự bất mãn và giận dữ của người dân Trung Quốc trước chính sách thỏa hiệp với người Nhật của mình, và ra lệnh cho các tướng lĩnh KMT là Trương Học Lương và Dương Hổ Thành thực hiện việc đàn áp ĐCSTQ; tuy nhiên, lực lượng cấp tỉnh của họ đã chịu tổn thất đáng kể trong các trận chiến với Hồng quân.

18Tưởng phát động chiến dịch thứ năm bao gồm việc bao vây có hệ thống khu vực Xô viết Giang Tây

Cuối cùng, vào cuối năm 1934, Tưởng phát động chiến dịch thứ năm bao gồm việc bao vây có hệ thống khu vực Xô viết Giang Tây bằng các lô cốt kiên cố.

19ĐCSTQ tận dụng cơ hội và phá vỡ vòng vây

Vào tháng 10 năm 1934, ĐCSTQ đã tận dụng những lỗ hổng trong vòng vây lô cốt (do lực lượng của một quân phiệt đồng minh với Tưởng Giới Thạch trấn giữ, thay vì quân chính quy KMT) và phá vỡ vòng vây.

20Tưởng bị quản thúc tại gia

Năm 1936, Chu Ân Lai và Trương Học Lương trở nên thân thiết hơn, Trương thậm chí còn đề nghị gia nhập ĐCSTQ. Tuy nhiên, điều này đã bị Quốc tế Cộng sản tại Liên Xô từ chối. Sau đó, Chu thuyết phục Trương và Dương Hổ Thành, một quân phiệt khác, kích động Sự kiện Tây An. Tưởng bị quản thúc tại gia và buộc phải ngừng các cuộc tấn công vào Hồng quân, thay vào đó tập trung vào mối đe dọa từ Nhật Bản.

21Sự kiện Tây An

Vào ngày 12 tháng 12 năm 1936, Trương Học Lương và Dương Hổ Thành bất mãn đã âm mưu bắt cóc Tưởng và buộc ông phải đình chiến với ĐCSTQ. Sự kiện này được gọi là Sự kiện Tây An.

22Nhật Bản phát động cuộc xâm lược toàn diện vào Trung Quốc

Năm 1937, Nhật Bản phát động cuộc xâm lược toàn diện vào Trung Quốc và quân đội được trang bị tốt của họ đã tràn qua các lực lượng phòng thủ KMT ở miền bắc và ven biển Trung Quốc.

23Mức độ hợp tác và phối hợp thực tế giữa ĐCSTQ và KMT trong Thế chiến II là tối thiểu

Liên minh giữa ĐCSTQ và KMT chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Không giống như lực lượng KMT, quân đội ĐCSTQ tránh chiến tranh quy ước và thay vào đó tham gia vào chiến tranh du kích chống lại người Nhật. Mức độ hợp tác và phối hợp thực tế giữa ĐCSTQ và KMT trong Thế chiến II là tối thiểu. Giữa Mặt trận Thống nhất lần thứ hai, ĐCSTQ và KMT vẫn đang tranh giành lợi thế lãnh thổ ở "Trung Quốc Tự do" (tức là các khu vực không bị Nhật Bản chiếm đóng hoặc không bị cai trị bởi các chính phủ bù nhìn của Nhật Bản như Mãn Châu Quốc và Chính phủ Quốc gia Tái tổ chức của Trung Quốc).

24Tình hình trở nên căng thẳng vào cuối năm 1940 và đầu năm 1941 khi các cuộc đụng độ giữa lực lượng Cộng sản và KMT gia tăng

Tình hình trở nên căng thẳng vào cuối năm 1940 và đầu năm 1941 khi các cuộc đụng độ giữa lực lượng Cộng sản và KMT gia tăng. Tưởng yêu cầu vào tháng 12 năm 1940 rằng Tân Tứ quân của ĐCSTQ phải rút khỏi các tỉnh An Huy và Giang Tô, do sự khiêu khích và quấy rối lực lượng KMT trong khu vực này. Dưới áp lực dữ dội, các chỉ huy Tân Tứ quân đã tuân thủ. Năm sau, họ bị lực lượng KMT phục kích trong quá trình rút quân, dẫn đến hàng ngàn người thiệt mạng.

25Tưởng tấn công ĐCSTQ năm 1943 bằng ấn phẩm tuyên truyền Vận mệnh Trung Quốc

Tưởng tấn công ĐCSTQ vào năm 1943 bằng ấn phẩm tuyên truyền Vận mệnh Trung Quốc, trong đó đặt câu hỏi về quyền lực của ĐCSTQ sau chiến tranh, trong khi ĐCSTQ phản đối mạnh mẽ sự lãnh đạo của Tưởng và gọi chế độ của ông là phát xít nhằm tạo ra hình ảnh tiêu cực trước công chúng. Cả hai nhà lãnh đạo đều biết rằng một cuộc chiến chết chóc đã bắt đầu giữa họ.

26Chiến dịch tấn công chiến lược Mãn Châu

Trong tháng cuối cùng của Thế chiến II ở Đông Á, lực lượng Liên Xô đã phát động Chiến dịch tấn công chiến lược Mãn Châu khổng lồ để tấn công Đội quân Quan Đông gồm 2 triệu người của Nhật Bản ở Mãn Châu và dọc theo biên giới Trung-Mông.

27Vùng giải phóng của Đảng Cộng sản

Đến cuối Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, quyền lực của Đảng Cộng sản đã tăng lên đáng kể. Lực lượng chính của họ đã tăng lên 1,2 triệu quân, được hỗ trợ bởi lực lượng dân quân bổ sung gồm 2 triệu người, tổng cộng là 3,2 triệu quân. "Vùng giải phóng" của họ vào năm 1945 bao gồm 19 khu căn cứ, chiếm một phần tư lãnh thổ đất nước và một phần ba dân số; bao gồm nhiều thị trấn và thành phố quan trọng.

28Đàm phán hòa bình hậu chiến lần thứ nhất

Cuộc đàm phán hòa bình hậu chiến lần thứ nhất có sự tham dự của cả Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông tại Trùng Khánh từ ngày 28 tháng 8 năm 1945.

29Hiệp định Song thập

Vào ngày 10 tháng 10 năm 1945, Hiệp định Song thập được ký kết. Cả hai bên đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tái thiết hòa bình, nhưng hội nghị không mang lại bất kỳ kết quả cụ thể nào.

30Ngăn chặn ĐCSTQ củng cố căn cứ vốn đã mạnh của mình

Quân đội KMT sau đó được Mỹ vận chuyển bằng đường hàng không để chiếm các thành phố trọng điểm ở Bắc Trung Quốc, trong khi vùng nông thôn đã bị ĐCSTQ kiểm soát. Vào ngày 15 tháng 11 năm 1945, một cuộc tấn công bắt đầu với ý định ngăn chặn ĐCSTQ củng cố căn cứ vốn đã mạnh của mình.

31Lực lượng của Tưởng Giới Thạch tiến xa đến tận Cẩm Châu (Jinzhou)

Các lực lượng của Tưởng Giới Thạch đã tiến xa đến tận Cẩm Châu (Jinzhou) vào ngày 26 tháng 11 năm 1945, và hầu như không gặp phải sự kháng cự nào. Tiếp theo đó là một cuộc tấn công của Đảng Cộng sản trên Bán đảo Sơn Đông, cuộc tấn công này phần lớn đã thành công, khi toàn bộ bán đảo, ngoại trừ phần do Mỹ kiểm soát, đã rơi vào tay Đảng Cộng sản.

32Hồng quân Liên Xô dưới quyền chỉ huy của Nguyên soái Rodion Malinovsky tiếp tục trì hoãn việc rút quân khỏi Mãn Châu

Vào tháng 3 năm 1946, bất chấp những yêu cầu lặp đi lặp lại từ Tưởng Giới Thạch, Hồng quân Liên Xô dưới quyền chỉ huy của Nguyên soái Rodion Malinovsky tiếp tục trì hoãn việc rút quân khỏi Mãn Châu, trong khi Malinovsky bí mật ra lệnh cho các lực lượng CPC tiến vào phía sau họ, điều này dẫn đến cuộc chiến tranh toàn diện để giành quyền kiểm soát vùng Đông Bắc.

33Các nhà ngoại giao Liên Xô yêu cầu một liên doanh phát triển công nghiệp với Quốc dân Đảng ở Mãn Châu

Trước khi bàn giao quyền kiểm soát cho các nhà lãnh đạo Cộng sản, vào ngày 27 tháng 3, các nhà ngoại giao Liên Xô đã yêu cầu một liên doanh phát triển công nghiệp với Quốc dân Đảng ở Mãn Châu.

34Lệnh ngừng bắn tan vỡ vào tháng 6 năm 1946 khi cuộc chiến tranh toàn diện giữa lực lượng CPC và KMT bùng nổ

Lệnh ngừng bắn tan vỡ vào tháng 6 năm 1946 khi cuộc chiến tranh toàn diện giữa lực lượng CPC và KMT bùng nổ vào ngày 26 tháng 6. Trung Quốc sau đó bước vào tình trạng nội chiến kéo dài hơn ba năm.

35Cuộc tấn công quy mô lớn vào lãnh thổ Cộng sản

Vào ngày 20 tháng 7 năm 1946, Tưởng Giới Thạch đã phát động một cuộc tấn công quy mô lớn vào lãnh thổ Cộng sản ở Bắc Trung Quốc với 113 lữ đoàn (tổng cộng 1,6 triệu quân).

36Chiến thắng mang tính biểu tượng

Vào tháng 3 năm 1947, KMT đã đạt được một chiến thắng mang tính biểu tượng bằng cách chiếm giữ thủ đô Diên An của CPC.

37Thảm sát Thượng Hải

Vào ngày 12 tháng 4, tại Thượng Hải, nhiều đảng viên Cộng sản trong KMT đã bị thanh trừng thông qua hàng trăm vụ bắt giữ và hành quyết theo lệnh của Tướng Bạch Sùng Hy. CPC gọi đây là Sự kiện 12 tháng 4 hay Thảm sát Thượng Hải. Sự kiện này đã làm sâu sắc thêm sự rạn nứt giữa Tưởng Giới Thạch và Uông Tinh Vệ, một quân phiệt khác kiểm soát thành phố Vũ Hán.

38Đảng Cộng sản phản công

Đảng Cộng sản phản công ngay sau đó; vào ngày 30 tháng 6 năm 1947, quân đội CPC vượt sông Hoàng Hà và tiến vào khu vực núi Đại Biệt, khôi phục và phát triển vùng Trung Nguyên. Đồng thời, các lực lượng Cộng sản cũng bắt đầu phản công ở Đông Bắc Trung Quốc, Bắc Trung Quốc và Đông Trung Quốc.

39Chiến dịch Hoài Hải

Chiến dịch Hoài Hải vào cuối năm 1948 và đầu năm 1949 đã đảm bảo quyền kiểm soát vùng Đông Trung Quốc cho CPC.

40CPC cuối cùng đã chiếm được các thành phố phía bắc

Đến cuối năm 1948, CPC cuối cùng đã chiếm được các thành phố phía bắc là Thẩm Dương và Trường Xuân, đồng thời giành quyền kiểm soát vùng Đông Bắc sau khi chịu nhiều thất bại trong nỗ lực chiếm các thành phố này, với Chiến dịch Liêu Thẩm mang tính quyết định.

41Cuộc bao vây Trường Xuân

Quân đoàn mới số 1, được coi là quân đội KMT tinh nhuệ nhất, đã buộc phải đầu hàng sau khi CPC tiến hành cuộc bao vây tàn khốc kéo dài sáu tháng tại Trường Xuân, dẫn đến hơn 150.000 dân thường thiệt mạng vì đói.

42Chiếm được Tế Nam và Sơn Đông

Sau một trận chiến ác liệt, CPC đã chiếm được Tế Nam và tỉnh Sơn Đông vào ngày 24 tháng 9 năm 1948.

43Chiến dịch Bình Tân

Chiến dịch Bình Tân đã dẫn đến việc Đảng Cộng sản chinh phục miền Bắc Trung Quốc. Chiến dịch kéo dài 64 ngày, từ ngày 21 tháng 11 năm 1948 đến ngày 31 tháng 1 năm 1949.

44Chỉ còn lại Tây Tạng

Đến cuối năm 1949, Quân Giải phóng Nhân dân đang truy đuổi tàn quân KMT về phía nam ở miền Nam Trung Quốc, và chỉ còn lại Tây Tạng.

45Chiến dịch vượt sông Dương Tử

Sau khi đạt được chiến thắng quyết định tại các chiến dịch Liêu Thẩm, Hoài Hải và Bình Tân, CPC đã tiêu diệt 144 sư đoàn chính quy và 29 sư đoàn không chính quy của KMT, bao gồm 1,54 triệu quân KMT kỳ cựu, điều này làm giảm đáng kể sức mạnh của lực lượng Quốc dân Đảng. Stalin ban đầu ủng hộ một chính phủ liên hiệp ở Trung Quốc thời hậu chiến và cố gắng thuyết phục Mao Trạch Đông ngăn CPC vượt sông Dương Tử và tấn công các vị trí của KMT ở phía nam con sông. Mao Trạch Đông đã bác bỏ quan điểm của Stalin và vào ngày 21 tháng 4, bắt đầu Chiến dịch vượt sông Dương Tử.

46CPC chiếm được thủ đô của KMT

Vào ngày 23 tháng 4, CPC chiếm được thủ đô Nam Kinh của KMT.

47Thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với thủ đô tại Bắc Kinh, nơi được trả lại tên cũ là Bắc Kinh.

48Rút lui về Quảng Châu

Chính phủ KMT rút lui về Quảng Châu cho đến ngày 15 tháng 10.

49Rút lui về Trùng Khánh

Chính phủ KMT rút lui về Trùng Khánh cho đến ngày 25 tháng 11.

50Sự sụp đổ của Thành Đô

Các ổ kháng cự lẻ tẻ của Quốc dân Đảng vẫn còn trong khu vực, nhưng phần lớn sự kháng cự đã sụp đổ sau khi Thành Đô thất thủ vào ngày 10 tháng 12 năm 1949, với một số cuộc kháng cự vẫn tiếp tục ở cực nam.

51Rút lui về Đài Loan

Chính phủ KMT rút lui về Thành Đô trước khi rút lui về Đài Loan vào ngày 10 tháng 12.