Sinh ra
Hồ Chí Minh sinh ra với tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung vào năm 1890 tại làng Hoàng Trù, quê ngoại của ông.

Thứ Hai Thg 5 19, 1890 đến Thứ Ba Thg 9 2, 1969
Vietnam - Russia - France - Thailand - China
Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng và chính trị gia người Việt Nam. Ông giữ chức Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1945 đến 1955 và sau đó là Chủ tịch nước từ năm 1945 đến 1969. Về tư tưởng, ông là một người theo chủ nghĩa Marx-Lenin, từng giữ chức Chủ tịch và Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam.
Hồ Chí Minh sinh ra với tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung vào năm 1890 tại làng Hoàng Trù, quê ngoại của ông.
Ông làm phụ bếp trên một con tàu hơi nước của Pháp có tên là Amiral de Latouche-Tréville dưới bí danh Văn Ba.
Con tàu khởi hành vào ngày 5 tháng 6 năm 1911 và đến Marseille, Pháp vào ngày 5 tháng 7 năm 1911. Sau đó, tàu đi đến Le Havre và Dunkirk, rồi quay trở lại Marseille vào giữa tháng 9. Tại đây, ông nộp đơn vào Trường Thuộc địa Pháp nhưng bị từ chối, vì vậy ông quyết định bắt đầu hành trình đi khắp thế giới bằng cách làm việc trên các con tàu và đã ghé thăm nhiều quốc gia từ năm 1911 đến 1917.
Trong khi làm phụ bếp trên một con tàu vào năm 1912, Thành (Hồ) đã đi đến Hoa Kỳ. Từ năm 1912 đến 1913, ông có thể đã sống ở Thành phố New York (Harlem) và Boston, nơi ông tuyên bố đã làm thợ làm bánh tại khách sạn Parker House.
Từ năm 1919 đến 1923, Thành (Hồ) bắt đầu quan tâm đến chính trị khi sống ở Pháp, chịu ảnh hưởng từ người bạn và đồng chí trong Đảng Xã hội Pháp là Marcel Cachin. Thành tuyên bố đã đến Paris từ London vào năm 1917, nhưng cảnh sát Pháp chỉ có tài liệu ghi lại việc ông đến vào tháng 6 năm 1919.
Vào tháng 12 năm 1920, Quốc (Hồ) trở thành đại biểu tham dự Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, bỏ phiếu cho Quốc tế thứ ba và là thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đảm nhận vị trí trong Ủy ban Thuộc địa của đảng, ông cố gắng thu hút sự chú ý của các đồng chí về tình hình người dân tại các thuộc địa của Pháp bao gồm Đông Dương, nhưng những nỗ lực của ông thường không thành công.
Ông bắt đầu viết các bài báo và truyện ngắn cũng như điều hành nhóm dân tộc chủ nghĩa Việt Nam của mình. Vào tháng 5 năm 1922, ông viết một bài báo cho một tạp chí Pháp phê phán việc các nhà báo thể thao Pháp sử dụng từ tiếng Anh.
Năm 1923, Quốc (Hồ) rời Paris đi Moscow với hộ chiếu mang tên Chen Vang, một thương gia người Trung Quốc, nơi ông được Quốc tế Cộng sản tuyển dụng và theo học tại Đại học Phương Đông.
Quốc (Hồ) đã tham gia Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ năm vào tháng 6 năm 1924.
Quốc (Hồ) đến Quảng Châu, Trung Quốc vào tháng 11 năm 1924 với tên gọi Lý Thụy.
Trong giai đoạn 1925–1926, ông tổ chức "Các lớp giáo dục thanh niên" và thỉnh thoảng giảng bài về chủ nghĩa xã hội cho những thanh niên cách mạng Việt Nam đang sống tại Quảng Châu ở Trường Quân sự Hoàng Phố. Những thanh niên này sau đó vài năm đã trở thành hạt giống cho một phong trào cách mạng mới, thân cộng sản tại Việt Nam. Theo William Duiker.
Ông sống cùng một phụ nữ Trung Quốc tên là Tăng Tuyết Minh, người mà ông kết hôn vào ngày 18 tháng 10 năm 1926.
Sau cuộc đảo chính chống Cộng năm 1927 của Tưởng Giới Thạch, Quốc (Hồ) rời Quảng Châu một lần nữa vào tháng 4 năm 1927 và trở lại Moscow, dành một phần mùa hè năm 1927 để dưỡng bệnh lao ở Crimea.
Quốc (Hồ) trở lại Paris một lần nữa vào tháng 11 năm 1927.
Hồ trở lại châu Á qua ngả Brussels, Berlin, Thụy Sĩ và Ý, sau đó đi tàu đến Bangkok, Thái Lan, và đến nơi vào tháng 7 năm 1928.
Quốc (Hồ) ở lại Thái Lan, lưu trú tại bản Nachok cho đến cuối năm 1929, sau đó ông chuyển đến Ấn Độ và rồi Thượng Hải.
Tại Hồng Kông vào đầu năm 1930, ông chủ trì một cuộc họp với đại diện từ hai Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm hợp nhất họ thành một tổ chức thống nhất, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vào tháng 6 năm 1931, ông bị bắt tại Hồng Kông.
Để giảm bớt áp lực từ phía Pháp đòi dẫn độ Quốc (Hồ), ông được báo cáo là đã chết vào năm 1932.
Người Anh lặng lẽ thả ông vào tháng 1 năm 1933. Ông chuyển đến Liên Xô và tại Moscow, ông đã học tập và giảng dạy tại Viện Lenin.
Vào ngày 31 tháng 3 năm 1935, Hồ Chí Minh trở thành Ủy viên Bộ Chính trị.
Năm 1938, Quốc (Hồ) trở lại Trung Quốc và làm cố vấn cho lực lượng vũ trang Cộng sản Trung Quốc. Ông cũng là đặc vụ cấp cao của Quốc tế Cộng sản phụ trách các vấn đề châu Á.
Khoảng năm 1940, ông bắt đầu thường xuyên sử dụng tên Hồ Chí Minh, một cái tên Việt Nam kết hợp giữa một họ phổ biến của người Việt (Hồ, 胡) với một tên gọi có nghĩa là "Người được khai sáng".
Năm 1941, Hồ Chí Minh trở lại Việt Nam để lãnh đạo phong trào độc lập Việt Minh.
Vào tháng 4 năm 1945, ông gặp đặc vụ OSS Archimedes Patti và đề nghị cung cấp thông tin tình báo cho quân Đồng minh với điều kiện ông có "một đường dây liên lạc với quân Đồng minh". OSS đồng ý và sau đó cử một đội quân sự gồm các thành viên OSS đến huấn luyện cho người của ông, đồng thời chính Hồ Chí Minh cũng được một bác sĩ OSS điều trị bệnh sốt rét và kiết lỵ.
Việt Minh (Liên đoàn vì sự độc lập của Việt Nam) của Hồ Chí Minh đã phát động cuộc cách mạng chống lại ách thống trị thực dân Pháp tại Việt Nam vào ngày 14 tháng 8 năm 1945.
Vào tháng 9 năm 1945, một lực lượng gồm 200.000 quân đội Trung Hoa Dân Quốc đã đến Hà Nội để tiếp nhận sự đầu hàng của quân chiếm đóng Nhật Bản tại miền Bắc Đông Dương.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau khi Hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam dưới danh nghĩa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) do Việt Minh tổ chức, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Chính phủ Lâm thời (Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và đọc Tuyên ngôn Độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tại Sài Gòn, với tình trạng bạo lực giữa các phe phái Việt Nam và lực lượng Pháp ngày càng gia tăng, chỉ huy người Anh, Tướng Sir Douglas Gracey, đã ban bố thiết quân luật. Ngày 24 tháng 9, các nhà lãnh đạo Việt Minh đã đáp trả bằng lời kêu gọi tổng bãi công.
Trong những ngày cuối năm 1946, sau một năm thất bại về ngoại giao và nhiều nhượng bộ trong các thỏa thuận như hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận thấy chiến tranh là không thể tránh khỏi.
Khi Tưởng Giới Thạch buộc Pháp phải trả lại các tô giới của Pháp ở Thượng Hải cho Trung Quốc để đổi lấy việc rút quân khỏi miền bắc Đông Dương, ông không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ký một thỏa thuận với Pháp vào ngày 6 tháng 3 năm 1946, trong đó Việt Nam sẽ được công nhận là một quốc gia tự trị trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp. Thỏa thuận này sớm bị phá vỡ.
Việc lực lượng Pháp ném bom Hải Phòng tại Hà Nội chỉ củng cố thêm niềm tin rằng Pháp không có ý định cho phép một quốc gia tự trị, độc lập ở Việt Nam. Vụ ném bom Hải Phòng được cho là đã giết chết hơn 6000 thường dân Việt Nam. Lực lượng Pháp tiến vào Hà Nội, nay là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, sau sự kiện Hải Phòng, Hồ Chí Minh tuyên chiến với Liên hiệp Pháp, đánh dấu sự khởi đầu của cuộc Chiến tranh Đông Dương.
Vào tháng 2 năm 1950, sau khi phá vỡ thành công vòng vây biên giới của Pháp, ông đã gặp Joseph Stalin và Mao Trạch Đông tại Moscow sau khi Liên Xô công nhận chính phủ của ông. Tất cả đều đồng ý rằng Trung Quốc sẽ chịu trách nhiệm hỗ trợ Việt Minh. Đặc phái viên của Mao Trạch Đông tại Moscow tuyên bố vào tháng 8 rằng Trung Quốc dự định huấn luyện 60.000–70.000 quân Việt Minh trong tương lai gần.
Ngày 19 tháng 2 năm 1951, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Hiệp định Genève năm 1954 được ký kết giữa Pháp và Việt Minh, cho phép lực lượng của Việt Minh tập kết ra miền Bắc trong khi các nhóm chống Cộng tập kết ở miền Nam.
Năm 1954, sau thất bại nặng nề của lực lượng Liên hiệp Pháp tại Chiến dịch Điện Biên Phủ, 2300 lính Pháp đã chết trong trận Điện Biên Phủ và hơn 10.000 lính Pháp đã đầu hàng Việt Minh. Pháp từ bỏ cuộc chiến chống lại Việt Minh, mất 70.000 binh sĩ trong tám năm của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.
Đến chiều ngày 20 tháng 7, các vấn đề còn tồn đọng đã được giải quyết khi các bên đồng ý rằng đường phân chia sẽ nằm ở vĩ tuyến 17 và cuộc bầu cử cho một chính phủ thống nhất sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956, hai năm sau khi ngừng bắn.
Ngay từ tháng 6 năm 1956, ý tưởng lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã được trình bày tại một cuộc họp bộ chính trị.
Ngày 1 tháng 11 năm 1956, Hồ Chí Minh trở thành Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Vào cuối năm 1959, nhận thức được rằng cuộc bầu cử quốc gia sẽ không bao giờ được tổ chức và Diệm có ý định thanh trừng các lực lượng đối lập (chủ yếu là cựu Việt Minh) khỏi chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã không chính thức chọn Lê Duẩn làm lãnh đạo đảng tiếp theo.
Năm 1959, Hồ Chí Minh bắt đầu thúc giục Bộ Chính trị gửi viện trợ cho Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam và một cuộc "chiến tranh nhân dân" ở miền Nam đã được phê duyệt tại một phiên họp vào tháng 1 năm 1959 và quyết định này đã được Bộ Chính trị xác nhận vào tháng 3.
Bắc Việt xâm lược Lào vào tháng 7 năm 1959 với sự hỗ trợ của Pathet Lào và sử dụng 30.000 quân để xây dựng một mạng lưới các tuyến đường tiếp tế và tăng viện chạy qua Lào và Campuchia, được gọi là đường mòn Hồ Chí Minh. Nó cho phép miền Bắc gửi nhân lực và vật lực cho Việt Cộng mà ít bị lực lượng Việt Nam Cộng hòa phát hiện hơn, đạt được lợi thế đáng kể.
Lê Duẩn chính thức được bổ nhiệm làm lãnh đạo đảng vào năm 1960, để Hồ Chí Minh giữ vai trò thứ yếu là nguyên thủ quốc gia và thành viên Bộ Chính trị. Tuy nhiên, ông vẫn duy trì ảnh hưởng đáng kể trong chính phủ.
Để phản bác cáo buộc rằng Bắc Việt đang vi phạm Hiệp định Genève, sự độc lập của Việt Cộng đã được nhấn mạnh trong tuyên truyền của Cộng sản. Bắc Việt đã thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào tháng 12 năm 1960 như một "mặt trận thống nhất", hay nhánh chính trị của Việt Cộng nhằm khuyến khích sự tham gia của những người không theo Cộng sản.
Vào tháng 7 năm 1967, Hồ Chí Minh và hầu hết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản đã gặp nhau trong một hội nghị cấp cao, nơi họ kết luận rằng cuộc chiến đã rơi vào thế bế tắc.
Với sự cho phép của Hồ Chí Minh, Việt Cộng đã lên kế hoạch cho một cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân quy mô lớn bắt đầu vào ngày 31 tháng 1 năm 1968, với mục tiêu dùng vũ lực chiếm phần lớn miền Nam và giáng một đòn nặng nề vào quân đội Mỹ. Cuộc tấn công đã được thực hiện với cái giá rất đắt và gây thương vong nặng nề cho các cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang của Việt Cộng.
Khi kết quả của Chiến tranh Việt Nam vẫn còn là một dấu hỏi, Hồ Chí Minh đã qua đời vì suy tim tại nhà riêng ở Hà Nội vào lúc 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969; hưởng thọ 79 tuổi.
Một tuần lễ quốc tang cho sự ra đi của ông đã được ban bố trên toàn miền Bắc Việt Nam từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 9 năm 1969.