Sinh ra
John Fitzgerald Kennedy sinh ngày 29 tháng 5 năm 1917, tại số 83 phố Beals ở vùng ngoại ô Brookline, Massachusetts, Hoa Kỳ.

Thứ Ba Thg 5 29, 1917 đến Thứ Sáu Thg 11 22, 1963
U.S.
Thường được gọi bằng tên viết tắt JFK, là một chính trị gia người Mỹ, người đã phục vụ với tư cách là tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ từ tháng 1 năm 1961 cho đến khi bị ám sát vào tháng 11 năm 1963. Ông phục vụ vào thời kỳ đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh, và phần lớn nhiệm kỳ tổng thống của ông tập trung vào việc quản lý quan hệ với Liên Xô. Là một thành viên của Đảng Dân chủ, Kennedy đã đại diện cho bang Massachusetts tại Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ trước khi trở thành tổng thống.
John Fitzgerald Kennedy sinh ngày 29 tháng 5 năm 1917, tại số 83 phố Beals ở vùng ngoại ô Brookline, Massachusetts, Hoa Kỳ.
Kennedy sống ở Brookline trong mười năm đầu đời và theo học tại Nhà thờ St. Aidan địa phương, nơi ông được rửa tội vào ngày 19 tháng 6 năm 1917.
Năm 1939, Kennedy đã đi du lịch khắp châu Âu, Liên Xô, vùng Balkan và Trung Đông để chuẩn bị cho luận văn tốt nghiệp danh dự tại Harvard. Sau đó, ông đến Tiệp Khắc và Đức trước khi trở lại London vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, ngày mà Đức xâm lược Ba Lan, đánh dấu sự khởi đầu của Thế chiến II.
Năm 1940, Kennedy tốt nghiệp Đại học Harvard với bằng Cử nhân Văn chương ngành chính phủ, tập trung vào các vấn đề quốc tế.
Vào tháng 9 năm 1936, Kennedy nhập học tại Đại học Harvard.
Vào ngày 24 tháng 9 năm 1941, với sự giúp đỡ của giám đốc Văn phòng Tình báo Hải quân (ONI)—người từng là tùy viên hải quân của Joseph Kennedy—Kennedy đã gia nhập Lực lượng Dự bị Hải quân Hoa Kỳ.
Vào ngày 24 tháng 4, ông nhận quyền chỉ huy tàu PT-109, lúc đó đang đóng quân trên đảo Tulagi thuộc quần đảo Solomon.
Quyền chỉ huy đầu tiên của ông là tàu PT-101 từ ngày 7 tháng 12 năm 1942 đến ngày 23 tháng 2 năm 1943.
Vào ngày 10 tháng 10, ông được thăng cấp trung úy cấp thấp.
Vào ngày 12 tháng 8 năm 1944, anh trai của Kennedy là Joe Jr., một phi công hải quân, đã thiệt mạng khi tình nguyện tham gia một nhiệm vụ hàng không đặc biệt và nguy hiểm. Chiếc máy bay chở đầy chất nổ của anh đã phát nổ khi bom trên máy bay kích nổ sớm trong khi đang bay qua eo biển Manche.
Vào ngày 1 tháng 3 năm 1945, Kennedy giải ngũ khỏi Lực lượng Dự bị Hải quân vì lý do khuyết tật thể chất và được xuất ngũ trong danh dự với quân hàm trung úy.
Vào ngày 2 tháng 1 năm 1960, Kennedy tuyên bố ứng cử cho đề cử tổng thống của Đảng Dân chủ.
Kennedy đã có bài phát biểu tại Đại học Saint Anselm vào ngày 5 tháng 5 năm 1960 về cách ứng xử của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh đang nổi lên. Bài phát biểu nêu chi tiết cách chính sách đối ngoại của Mỹ nên được thực hiện đối với các quốc gia châu Phi, lưu ý một chút ủng hộ đối với chủ nghĩa dân tộc châu Phi hiện đại bằng cách nói: "Vì chúng ta cũng đã thành lập một quốc gia mới từ cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của thực dân".
John F. Kennedy đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 35 vào buổi trưa ngày 20 tháng 1 năm 1961.
Chính quyền Eisenhower đã tạo ra một kế hoạch lật đổ chế độ của Fidel Castro ở Cuba. Được dẫn dắt bởi Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), với sự giúp đỡ từ quân đội Hoa Kỳ, kế hoạch này là một cuộc xâm lược Cuba bởi một lực lượng nổi dậy phản cách mạng bao gồm những người Cuba lưu vong chống Castro được Mỹ huấn luyện và do các sĩ quan bán quân sự của CIA chỉ huy. Mục đích là xâm lược Cuba và kích động một cuộc nổi dậy trong nhân dân Cuba, với hy vọng loại bỏ Castro khỏi quyền lực. Kennedy đã phê duyệt kế hoạch xâm lược cuối cùng vào ngày 4 tháng 4 năm 1961.
Cuộc xâm lược Vịnh Con Lợn bắt đầu vào ngày 17 tháng 4 năm 1961.
Đến ngày 19 tháng 4 năm 1961, chính phủ Cuba đã bắt giữ hoặc tiêu diệt những người lưu vong xâm lược, và Kennedy buộc phải đàm phán để giải thoát cho 1.189 người sống sót. Hai mươi tháng sau, Cuba đã thả những người lưu vong bị bắt để đổi lấy số thực phẩm và thuốc men trị giá 53 triệu đô la.
Vào ngày 4 tháng 6 năm 1961, tổng thống đã gặp Khrushchev tại Vienna và rời khỏi các cuộc họp trong sự tức giận và thất vọng vì đã để thủ tướng bắt nạt mình, bất chấp những cảnh báo mà ông đã nhận được.
Vào ngày 14 tháng 10 năm 1962, máy bay do thám U-2 của CIA đã chụp được những bức ảnh về việc Liên Xô xây dựng các địa điểm tên lửa đạn đạo tầm trung ở Cuba. Những bức ảnh đã được trình cho Kennedy vào ngày 16 tháng 10; một sự đồng thuận đã đạt được rằng các tên lửa này có tính chất tấn công và do đó gây ra mối đe dọa hạt nhân ngay lập tức.
Hải quân Hoa Kỳ sẽ chặn và kiểm tra tất cả các tàu Liên Xô đến ngoài khơi Cuba, bắt đầu từ ngày 24 tháng 10.
Vào ngày 28 tháng 10, Khrushchev đồng ý tháo dỡ các địa điểm tên lửa, tùy thuộc vào sự kiểm tra của Liên Hợp Quốc.
Tổng thống Kennedy đã bị ám sát tại Dallas, Texas, vào lúc 12:30 chiều theo Giờ chuẩn miền Trung vào thứ Sáu, ngày 22 tháng 11 năm 1963.
Sau vụ ám sát Kennedy, Tổng thống Johnson đã ký NSAM 273 vào ngày 26 tháng 11 năm 1963. Nó đã đảo ngược quyết định rút 1.000 quân của Kennedy và tái khẳng định chính sách hỗ trợ cho người miền Nam Việt Nam.
Vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, người kế nhiệm ông, Tổng thống Lyndon Johnson, đã đưa những quân chiến đấu đầu tiên vào Việt Nam và leo thang đáng kể sự can thiệp của Hoa Kỳ, với lực lượng đạt 184.000 người trong năm đó và 536.000 người vào năm 1968.