1Sinh ra
Shimon Peres sinh ra với tên Szymon Perski vào ngày 2 tháng 8 năm 1923 tại Wiszniew, Ba Lan (nay là Vishnyeva, Belarus).
2Di cư đến Palestine
Năm 1932, cha của Peres di cư đến vùng đất Palestine thuộc Ủy trị và định cư tại Tel Aviv.
3HaNoar HaOved VeHaLomed
Năm 1941, ông được bầu làm Thư ký của HaNoar HaOved VeHaLomed, một phong trào thanh niên Lao động theo chủ nghĩa Zion.
4Kết hôn
Năm 1945, Peres kết hôn với Sonya Gelman, người thích tránh xa sự chú ý của công chúng. Họ có ba người con.
5Phái đoàn Mapai
Năm 1946, Peres và Moshe Dayan được chọn làm hai đại biểu thanh niên trong phái đoàn Mapai tham dự Đại hội Zion tại Basel.
6Tiền thân của Lực lượng Phòng vệ Israel
Năm 1947, Peres gia nhập Haganah, tổ chức tiền thân của Lực lượng Phòng vệ Israel.
7Phó Tổng giám đốc Bộ Quốc phòng
Năm 1952, ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng giám đốc Bộ Quốc phòng, và năm sau đó, ông trở thành Tổng giám đốc.
8Chiến tranh Suez 1956
Từ năm 1954, với tư cách là Tổng giám đốc Bộ Quốc phòng, Peres đã tham gia vào việc lập kế hoạch cho cuộc Chiến tranh Suez năm 1956, hợp tác với Pháp và Anh chống lại Ai Cập.
9Lần đầu đắc cử vào Knesset
Peres lần đầu tiên được bầu vào Knesset trong cuộc bầu cử năm 1959 với tư cách là thành viên của đảng Mapai. Ông được giao vai trò Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, vị trí mà ông đảm nhiệm cho đến năm 1965.
10Bộ trưởng Bộ Tiếp nhận Người nhập cư
Năm 1969, Peres được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Tiếp nhận Người nhập cư.
11Bộ trưởng Bộ Giao thông và Truyền thông
Năm 1970, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Giao thông và Truyền thông.
12Bộ trưởng Bộ Thông tin
Năm 1974, sau một thời gian giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin.
13248 hành khách đi Paris
Vào ngày 27 tháng 6 năm 1976, Peres, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, cùng với Rabin, đã phải đối phó với một hành động khủng bố phối hợp khi 248 hành khách trên chuyến bay của Air France đi Paris bị những kẻ không tặc ủng hộ Palestine bắt làm con tin và đưa đến Uganda, châu Phi, cách xa 2.000 dặm.
14Chiến dịch giải cứu Entebbe
Peres và Rabin chịu trách nhiệm phê duyệt chiến dịch được gọi là chiến dịch giải cứu Entebbe, diễn ra vào ngày 4 tháng 7 năm 1976.
15Thủ tướng
Peres trở thành Thủ tướng.
16Cuộc bầu cử năm 1977
Peres kế nhiệm Rabin làm lãnh đạo đảng trước cuộc bầu cử năm 1977 khi Rabin từ chức sau vụ bê bối ngoại tệ liên quan đến vợ ông.
17Hiệp ước hòa bình Israel–Jordan
Vào ngày 26 tháng 10 năm 1994, Jordan và Israel đã ký hiệp ước hòa bình Israel–Jordan.
18Thủ tướng lần thứ hai
Shimon Peres giữ chức Thủ tướng lâm thời cho đến ngày 22 tháng 11 năm 1995.
19Trung tâm Hòa bình Peres
Năm 1996, ông thành lập Trung tâm Hòa bình Peres, với mục tiêu "thúc đẩy hòa bình lâu dài và sự tiến bộ ở Trung Đông bằng cách nuôi dưỡng sự khoan dung, phát triển kinh tế và công nghệ, hợp tác và thịnh vượng".
20Chiến dịch Grapes of Wrath
Vào ngày 11 tháng 4 năm 1996, Thủ tướng Peres đã khởi xướng Chiến dịch Grapes of Wrath.
21Cuộc bầu cử tổng thống Israel năm 2000
Năm 2000, Peres tranh cử nhiệm kỳ bảy năm làm Tổng thống Israel, một vị trí nguyên thủ quốc gia mang tính nghi lễ, thường có quyền lựa chọn Thủ tướng. Tuy nhiên, ông đã thua ứng cử viên của đảng Likud là Moshe Katsav.
22Rời khỏi Công đảng
Vào ngày 30 tháng 11 năm 2005, Peres thông báo rằng ông sẽ rời khỏi Công đảng để ủng hộ Ariel Sharon và đảng Kadima mới của ông.
23Tổng thống
Vào ngày 13 tháng 6 năm 2007, Peres được Knesset bầu làm Tổng thống Nhà nước Israel. 58 trong số 120 thành viên của Knesset đã bỏ phiếu cho ông trong vòng đầu tiên (trong khi 38 phiếu cho Reuven Rivlin và 21 phiếu cho Colette Avital).
24Tước Hiệp sĩ Danh dự
Vào ngày 20 tháng 11 năm 2008, Peres đã nhận tước Hiệp sĩ Danh dự, Hiệp sĩ Thập tự giá của Huân chương St Michael và St George từ Nữ hoàng Elizabeth II tại Cung điện Buckingham ở London.
25Ngày cuối cùng tại nhiệm kỳ Tổng thống
Peres thông báo vào tháng 4 năm 2013 rằng ông sẽ không tìm cách gia hạn nhiệm kỳ sau năm 2014. Người kế nhiệm ông, Reuven Rivlin, được bầu vào ngày 10 tháng 6 năm 2014 và nhậm chức vào ngày 24 tháng 7 năm 2014.
26Giải thưởng Ngoại giao
Shimon Peres đã nhận Giải thưởng Ngoại giao Israel vào ngày 29 tháng 11 năm 2015.
27Qua đời
Ông qua đời vào ngày 28 tháng 9 năm 2016 ở tuổi 93.

