Ngày Độc lập Việt Nam
Việt Nam vừa tuyên bố độc lập vào tháng 9 năm 1945.

Thứ Ba Thg 11 1, 1955 đến Thứ Tư Thg 4 30, 1975
Vietnam, Laos, Cambodia
Chiến tranh Việt Nam, còn được gọi là Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, và tại Việt Nam là cuộc Kháng chiến chống Mỹ hay đơn giản là Chiến tranh Mỹ, là một cuộc chiến tranh không tuyên bố tại Việt Nam, Lào và Campuchia từ ngày 1 tháng 11 năm 1955 đến khi Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đây là cuộc chiến thứ hai trong các cuộc Chiến tranh Đông Dương và chính thức diễn ra giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt Nam) và Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam). Bắc Việt Nam được hỗ trợ bởi Liên Xô, Trung Quốc và các đồng minh cộng sản khác; Nam Việt Nam được hỗ trợ bởi Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Philippines, Úc, Thái Lan và các đồng minh chống cộng khác. Cuộc chiến được coi là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm thời Chiến tranh Lạnh theo một số quan điểm của Hoa Kỳ. Cuộc chiến kéo dài khoảng 19 năm với sự tham gia trực tiếp của Hoa Kỳ kết thúc vào năm 1973 sau Hiệp định Paris, và bao gồm cả Nội chiến Lào và Nội chiến Campuchia, dẫn đến việc cả ba quốc gia đều trở thành các quốc gia cộng sản vào năm 1975.
Việt Nam vừa tuyên bố độc lập vào tháng 9 năm 1945.
Sự bùng nổ của Chiến tranh Triều Tiên vào tháng 6 năm 1950 đã thuyết phục nhiều nhà hoạch định chính sách ở Washington rằng cuộc chiến ở Đông Dương là một ví dụ về chủ nghĩa bành trướng cộng sản do Liên Xô chỉ đạo.
Các cố vấn quân sự từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) bắt đầu hỗ trợ Việt Minh (Liên đoàn Độc lập Việt Nam là một liên minh độc lập dân tộc được Hồ Chí Minh thành lập tại Pác Bó vào ngày 19 tháng 5 năm 1941) vào tháng 7 năm 1950.
Vào tháng 9 năm 1950, Hoa Kỳ đã thành lập Phái đoàn Hỗ trợ Quân sự và Cố vấn (MAAG) để sàng lọc các yêu cầu viện trợ của Pháp, tư vấn về chiến lược và huấn luyện binh lính Việt Nam. Đến năm 1954, Hoa Kỳ đã chi 1 tỷ USD để hỗ trợ nỗ lực quân sự của Pháp, gánh vác 80 phần trăm chi phí chiến tranh.
Tuy nhiên, theo Hồ sơ Lầu Năm Góc, từ năm 1954 đến 1956 "Ngô Đình Diệm thực sự đã làm nên phép màu" ở Nam Việt Nam: "Gần như chắc chắn rằng đến năm 1956, tỷ lệ những người có thể đã bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh—trong một cuộc bầu cử tự do chống lại Diệm—sẽ thấp hơn nhiều so với tám mươi phần trăm."
Vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân đồn trú Pháp tại Điện Biên Phủ đầu hàng. Thất bại này đánh dấu sự kết thúc của sự tham gia quân sự của Pháp tại Đông Dương. Tại Hội nghị Genève, Pháp đã đàm phán một thỏa thuận ngừng bắn với Việt Minh, và độc lập đã được trao cho Campuchia, Lào và Việt Nam.
Trong khi đó, miền Nam thành lập Quốc gia Việt Nam, với Bảo Đại là Quốc trưởng và Ngô Đình Diệm (được bổ nhiệm vào tháng 7 năm 1954) làm thủ tướng. Cả chính phủ Hoa Kỳ lẫn Quốc gia Việt Nam của Ngô Đình Diệm đều không ký bất cứ điều gì tại Hội nghị Genève năm 1954.
Hoàng thân Norodom Sihanouk đã tuyên bố Campuchia trung lập từ năm 1955, nhưng cho phép Quân đội Nhân dân Việt Nam/Việt Cộng sử dụng Campuchia làm bàn đạp cho Đường mòn Sihanouk.
Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1955, Diệm đã loại bỏ mọi sự phản đối chính trị ở miền Nam bằng cách phát động các chiến dịch quân sự chống lại hai nhóm tôn giáo: Cao Đài và Hòa Hảo của Ba Cụt. Chiến dịch cũng tập trung vào nhóm tội phạm có tổ chức Bình Xuyên, vốn liên minh với các thành viên của cảnh sát mật đảng cộng sản và có một số yếu tố quân sự. Khi sự phản đối rộng rãi đối với các chiến thuật khắc nghiệt của ông gia tăng, Diệm ngày càng tìm cách đổ lỗi cho những người cộng sản.
Trong cuộc trưng cầu dân ý về tương lai của Quốc gia Việt Nam vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, Diệm đã gian lận cuộc bỏ phiếu do anh trai Ngô Đình Nhu giám sát và được ghi nhận với 98,2 phần trăm số phiếu bầu, bao gồm 133% ở Sài Gòn. Các cố vấn Mỹ của ông đã khuyến nghị một biên độ chiến thắng khiêm tốn hơn là "60 đến 70 phần trăm". Tuy nhiên, Diệm coi cuộc bầu cử là một bài kiểm tra quyền lực.
Những người lính Pháp cuối cùng sẽ rời Việt Nam vào tháng 4 năm 1956.
Bắt đầu từ mùa hè năm 1955, Diệm đã phát động chiến dịch "Tố cộng", trong đó những người bị nghi ngờ là cộng sản và các phần tử chống chính phủ khác đã bị bắt giữ, bỏ tù, tra tấn hoặc hành quyết. Ông đã áp dụng án tử hình đối với bất kỳ hoạt động nào bị coi là cộng sản vào tháng 8 năm 1956.
Từ năm 1954 đến 1957, có sự bất đồng chính kiến quy mô lớn nhưng vô tổ chức ở nông thôn, mà chính phủ Diệm đã thành công trong việc dập tắt. Đầu năm 1957, Nam Việt Nam tận hưởng nền hòa bình đầu tiên sau hơn một thập kỷ.
Vào tháng 5 năm 1957, Diệm đã thực hiện chuyến thăm cấp nhà nước kéo dài mười ngày tới Hoa Kỳ. Tổng thống Eisenhower cam kết tiếp tục hỗ trợ, và một cuộc diễu hành đã được tổ chức để vinh danh Diệm tại Thành phố New York. Mặc dù Diệm được ca ngợi công khai, Ngoại trưởng John Foster Dulles thừa nhận trong riêng tư rằng Diệm đã được chọn vì không có lựa chọn nào tốt hơn.
Từ năm 1956 đến 1959, 4 người Mỹ đã thiệt mạng.
Năm 1960, 5 người Mỹ và 2.223 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Năm 1961, 16 người Mỹ và 4.004 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Vào ngày 23 tháng 7 năm 1962, mười bốn quốc gia, bao gồm Trung Quốc, Nam Việt Nam, Liên Xô, Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ, đã ký một thỏa thuận hứa tôn trọng sự trung lập của Lào.
Năm 1962, 53 người Mỹ và 4.457 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Sự yếu kém của quân đội Nam Việt Nam được minh chứng bằng những hành động thất bại như Trận Ấp Bắc vào ngày 2 tháng 1 năm 1963, trong đó một nhóm nhỏ Việt Cộng đã thắng một trận chiến chống lại một lực lượng Nam Việt Nam lớn hơn và được trang bị tốt hơn nhiều, mà nhiều sĩ quan trong số đó dường như còn miễn cưỡng tham gia chiến đấu.
Tổng thống Kennedy bị ám sát vào ngày 22 tháng 11 năm 1963.
Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đã không tham gia sâu vào chính sách đối với Việt Nam; tuy nhiên, sau khi trở thành tổng thống, Johnson ngay lập tức tập trung vào cuộc chiến. Vào ngày 24 tháng 11 năm 1963, ông nói: "cuộc chiến chống cộng sản ... phải được tham gia ... với sức mạnh và quyết tâm".
Năm 1963, 122 người Mỹ và 5665 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Vào ngày 2 tháng 8 năm 1964, tàu USS Maddox, trong một nhiệm vụ tình báo dọc theo bờ biển Bắc Việt Nam, được cho là đã nổ súng và làm hư hại một số tàu phóng lôi đã bám theo nó ở Vịnh Bắc Bộ.
Cuộc "tấn công" thứ hai đã dẫn đến các cuộc không kích trả đũa, và thúc đẩy Quốc hội thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ vào ngày 7 tháng 8 năm 1964.
Năm 1964, 216 người Mỹ và 7457 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Hội đồng An ninh Quốc gia đã khuyến nghị leo thang ba giai đoạn ném bom Bắc Việt Nam. Sau một cuộc tấn công vào căn cứ quân đội Hoa Kỳ ở Pleiku vào ngày 7 tháng 2 năm 1965, một loạt các cuộc không kích đã được bắt đầu.
Chiến dịch Sấm Rền và Chiến dịch Arc Light đã mở rộng các hoạt động ném bom trên không và hỗ trợ mặt đất.
Vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, 3.500 lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ đã được đơn phương điều động đến miền Nam Việt Nam.
Năm 1965, 1928 người Mỹ và 11242 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Năm 1966, 6350 người Mỹ và 11953 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Vào cuối năm 1967, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã dụ lực lượng Mỹ vào vùng nội địa tại Đắk Tô và tại căn cứ chiến đấu Khe Sanh của Thủy quân lục chiến ở tỉnh Quảng Trị, nơi Mỹ tham gia vào một loạt các trận chiến được gọi là Các trận đánh trên đồi. Những hành động này là một phần của chiến lược nghi binh nhằm thu hút lực lượng Mỹ về phía Tây Nguyên.
Năm 1967, 11.363 người Mỹ và 12.716 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân bắt đầu vào ngày 30 tháng 1 năm 1968, khi hơn 100 thành phố bị tấn công bởi hơn 85.000 quân địch, bao gồm các cuộc tấn công vào các cơ sở quân sự quan trọng, trụ sở chính, các tòa nhà và văn phòng chính phủ, bao gồm cả Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn.
Vào ngày 10 tháng 5 năm 1968, các cuộc đàm phán hòa bình bắt đầu giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam tại Paris. Các cuộc đàm phán bị đình trệ trong năm tháng, cho đến khi Johnson ra lệnh ngừng ném bom Bắc Việt Nam. Đồng thời, Hà Nội nhận ra rằng họ không thể đạt được "chiến thắng hoàn toàn" và đã sử dụng một chiến lược được gọi là "vừa đánh vừa đàm", trong đó các cuộc tấn công quân sự sẽ diễn ra đồng thời với các cuộc đàm phán.
Năm 1968, 16.899 người Mỹ và 27.915 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon bắt đầu rút quân vào năm 1969.
Vào tháng 9 năm 1969, Hồ Chí Minh qua đời ở tuổi bảy mươi chín.
Vào ngày 15 tháng 10 năm 1969, cuộc đình công vì Việt Nam đã thu hút hàng triệu người Mỹ.
Vào ngày 27 tháng 10 năm 1969, Nixon đã ra lệnh cho một phi đội gồm 18 chiếc B-52 mang vũ khí hạt nhân bay đến biên giới không phận Liên Xô để thuyết phục Liên Xô, theo lý thuyết kẻ điên, rằng ông có khả năng làm bất cứ điều gì để kết thúc Chiến tranh Việt Nam ("Chiến dịch Giant Lance").
Năm 1969, 11.780 người Mỹ và 21.833 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Năm 1970, Nixon tuyên bố rút thêm 150.000 quân Mỹ, giảm số lượng người Mỹ xuống còn 265.500.
Vào tháng 3 năm 1970, Hoàng thân Sihanouk bị lật đổ bởi thủ tướng thân Mỹ Lon Nol, người đã yêu cầu quân đội Bắc Việt Nam rời khỏi Campuchia nếu không sẽ phải đối mặt với hành động quân sự.
Năm 1970, 6.173 người Mỹ và 23.346 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Năm 1971, 2.414 người Mỹ và 22.738 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Năm 1972, 759 người Mỹ và 39.587 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Vào ngày 15 tháng 1 năm 1973, tất cả các hoạt động chiến đấu của Hoa Kỳ đã bị đình chỉ. Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, cùng với Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời (PRG, chính phủ của Việt Cộng) Nguyễn Thị Bình và Tổng thống Thiệu miễn cưỡng, đã ký Hiệp định Hòa bình Paris vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Trong thời gian dẫn đến lệnh ngừng bắn vào ngày 28 tháng 1, cả hai bên đều cố gắng tối đa hóa diện tích đất và dân số dưới sự kiểm soát của họ trong một chiến dịch được gọi là Cuộc chiến giành cờ, giao tranh vẫn tiếp diễn sau lệnh ngừng bắn, lần này không có sự tham gia của Mỹ và tiếp tục trong suốt cả năm.
Tất cả nhân viên lực lượng Hoa Kỳ đã được rút hoàn toàn vào tháng 3 năm 1973.
Vào ngày 15 tháng 3 năm 1973, Nixon ám chỉ Mỹ sẽ can thiệp quân sự trở lại nếu miền Bắc phát động một cuộc tấn công toàn diện, và Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger đã tái khẳng định lập trường này trong các phiên điều trần xác nhận vào tháng 6 năm 1973.
Năm 1973, 68 người Mỹ và 27.901 người Việt Nam đã thiệt mạng.
Sau hai cuộc đụng độ khiến 55 binh sĩ miền Nam Việt Nam thiệt mạng, Tổng thống Thiệu tuyên bố vào ngày 4 tháng 1 năm 1974 rằng chiến tranh đã tái diễn và Hiệp định Hòa bình Paris không còn hiệu lực. Điều này bất chấp việc có hơn 25.000 thương vong ở miền Nam Việt Nam trong thời gian ngừng bắn.
Vào ngày 13 tháng 12 năm 1974, lực lượng Bắc Việt Nam tấn công Quốc lộ 14 tại tỉnh Phước Long. Phước Bình, tỉnh lỵ, thất thủ vào ngày 6 tháng 1 năm 1975.
Năm 1974, chỉ có một người Mỹ và 31.219 người Việt Nam thiệt mạng.
Vào ngày 10 tháng 3 năm 1975, Tướng Dũng phát động Chiến dịch 275, một cuộc tấn công hạn chế vào Tây Nguyên, được hỗ trợ bởi xe tăng và pháo hạng nặng. Mục tiêu là Buôn Ma Thuột, thuộc tỉnh Đắk Lắk.
Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) tỏ ra không có khả năng chống lại cuộc tấn công, và lực lượng của họ đã sụp đổ vào ngày 11 tháng 3.
Vào ngày 20 tháng 3, Thiệu thay đổi quyết định và ra lệnh phải giữ bằng được Huế, thành phố lớn thứ ba của Việt Nam, rồi sau đó lại thay đổi chính sách của mình nhiều lần. Khi quân Bắc Việt phát động cuộc tấn công, sự hoảng loạn bao trùm và sức kháng cự của ARVN dần suy yếu.
Vào ngày 22 tháng 3, quân đội Bắc Việt bắt đầu cuộc bao vây Huế. Thường dân tràn ngập sân bay và các bến tàu với hy vọng tìm mọi cách để thoát thân.
Đến ngày 28 tháng 3, 35.000 quân Bắc Việt đã sẵn sàng tấn công các vùng ngoại ô.
Đến ngày 30 tháng 3, 100.000 quân ARVN không còn người chỉ huy đã đầu hàng khi quân Bắc Việt tiến vào Đà Nẵng trong chiến thắng. Với sự sụp đổ của thành phố, việc phòng thủ Tây Nguyên và các tỉnh miền Bắc đã kết thúc.
Vào ngày 7 tháng 4, ba sư đoàn Bắc Việt tấn công Xuân Lộc, cách Sài Gòn 40 dặm (64 km) về phía đông. Trong hai tuần đẫm máu, giao tranh ác liệt đã diễn ra khi các lực lượng phòng thủ ARVN thực hiện trận đánh cuối cùng để cố gắng ngăn chặn bước tiến của quân Bắc Việt.
Tuy nhiên, vào ngày 21 tháng 4, lực lượng đồn trú kiệt quệ đã được lệnh rút lui về hướng Sài Gòn. Tổng thống Thiệu, trong sự cay đắng và đẫm lệ, đã từ chức cùng ngày hôm đó, tuyên bố rằng Hoa Kỳ đã phản bội Việt Nam Cộng hòa. Trong một lời chỉ trích gay gắt, ông cho rằng Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger đã lừa ông ký Hiệp định hòa bình Paris hai năm trước đó, với lời hứa viện trợ quân sự nhưng không bao giờ thực hiện.
Tổng thống Gerald Ford đã có bài phát biểu trên truyền hình vào ngày 23 tháng 4, tuyên bố chấm dứt Chiến tranh Việt Nam và mọi khoản viện trợ của Hoa Kỳ. Chiến dịch Frequent Wind tiếp tục diễn ra suốt ngày đêm, khi xe tăng Bắc Việt chọc thủng các tuyến phòng thủ ở ngoại ô Sài Gòn.
Sau khi chuyển giao quyền lực cho Trần Văn Hương, ông rời đi Đài Loan vào ngày 25 tháng 4.
Vào ngày 27 tháng 4, 100.000 quân Bắc Việt bao vây Sài Gòn. Thành phố được bảo vệ bởi khoảng 30.000 quân ARVN. Để đẩy nhanh sự sụp đổ và gây hoảng loạn, quân Bắc Việt đã pháo kích sân bay và buộc nó phải đóng cửa. Với đường hàng không bị cắt đứt, đông đảo thường dân nhận ra rằng họ không còn lối thoát.
Schlesinger thông báo vào sáng sớm ngày 29 tháng 4 năm 1975 về việc di tản bằng trực thăng từ Sài Gòn đối với những nhân viên ngoại giao, quân sự và dân sự cuối cùng của Hoa Kỳ. Frequent Wind được coi là cuộc di tản bằng trực thăng lớn nhất trong lịch sử.
Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân Bắc Việt tiến vào thành phố Sài Gòn và nhanh chóng vượt qua mọi sự kháng cự, chiếm giữ các tòa nhà và cơ sở quan trọng. Một chiếc xe tăng từ Sư đoàn 324 đã húc đổ cổng Dinh Độc Lập vào lúc 11:30 sáng giờ địa phương và lá cờ Việt Cộng đã được kéo lên trên đó. Tổng thống Dương Văn Minh, người đã kế nhiệm ông Hương hai ngày trước đó, đã đầu hàng Đại tá Bùi Tín.
Vào sáng sớm ngày 30 tháng 4, những lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ cuối cùng đã di tản khỏi đại sứ quán bằng trực thăng, khi thường dân tràn ngập vành đai bảo vệ và đổ vào khuôn viên. Nhiều người trong số họ từng làm việc cho người Mỹ và bị bỏ lại với số phận của mình.
Trong năm 1975, 62 người Mỹ đã thiệt mạng.